Đầu xuân hành hương núi Điện Bà – Phần 1

Lễ vía Bà Đen/ Linh Sơn Thánh Mẫu cử hành vào ngày năm tháng năm âm lịch. Song hội xuân ở núi Điện Bà thu hút đông đảo khách hành hương lại là ba tháng đầu năm, mặc dù lễ hội chính là rằm đến mười tám tháng giêng. Đi chùa quanh năm không bằng rằm tháng giêng …
Non linh đất nước trổ hoa thần,
Riêng chiếm vườn hồng một cảnh xuân.
Tuyết đượm nhành tiên in sắc trắng,
Sương pha bóng nguyệt ánh màu ngân …
Năm 1901, theo lời mời của các nhà bạn thơ ở Tây Ninh, bà Sương Nguyệt Anh (con gái cụ Đồ Chiểu và là chủ bút tờ báo phu nữ đầu tiên ở xứ ta là Nữ giới chung) cùng họ hành hương lên núi Điện Bà, nhân đó thưởng hoa Bạch Mai nở trắng rừng. Thừa hứng, bà đề vịnh bạch mai trên chùa núi và rồi, viết tiếp hai bài thơ thất ngôn chữ Hán để tặng các thi hữu, tựa là Linh sơn nhất thụ mai. Ông Tô Ngọc Đường giữ thủ bút này mãi về sau như một kinh nghiệm quý báu, đến những năm 1970 đưa cho ông Huỳnh Minh chụp ảnh, công bố trong sách Tây Ninh xưa và nay …
Câu chuyện văn chương còn dài xin gác lại. Ở đây chúng ta thấy núi điện bà đến nhữn năm đầu thế kỷ XX đã trở thành một địa điểm hành hương – du lịch thu hút khách xa ở tận miệt Sài Gòn. Tây Ninh nói chung, núi Điện Bà nói riêng bây giờ là vùng “hậu bối” nguyên sơ của xứ đô hội phù hoa Sài Gòn – Gia Định, nơi đang diễn ra cuộc tranh thương gay cấn và sự va đập của phong hóa mới –cũ, với sự lấn lướt của lối sống tân thời. Tuồng như bây giờ Tây Ninh là một tụ điểm của tầng lớp trung lưu hoài cổ. Võ Sâm biên soạn tuyển tâp văn học cổ Thi phú văn từ và tập hợp quanh ông những danh sĩ địa phương để ngâm thơ xướng họa. Kế đó Quốc Biểu Nguyễn Cư Hiến thành lập văn đàn Quốc Biều (1923) hội họp nhau bàn luận văn chương và sáng tác hàng tuần vào mỗi chủ nhật ở Gò Chẹt … Tất thảy việc nhâm thơ xướng họa, lên núi thưởng hoa, vinh thơ … nghe như đượm cái dư vị của tao đàn Chiêu Anh Các, của Bạch Mai/ Sơn Hội thi xã của một thời quá vãng. Lại cả thiền sư Từ Phong từ Chợ Lớn cũng đến Tây Ninh lập chùa Từ Lâm ở Gò Kén và những thành viên của một tôn giáo mới với xu hướng trở về với nguồn cội Nho – Phật – Lão (qui nguyên tam giáo) đậm tính chất tiên đạo là đạo Cao Đài cũng chọn Tây Ninh làm nơi khai đạo và đặt trụ sở tòa thánh … Một cái nhìn toàn cảnh như vậy là nhằm chỉ ra những tiền đề lịch sử – văn hóa của tín ngưỡng thờ Bà Đen / Linh Sơn Thánh Mẫu và xác lập thời điểm của mức độ phát triển vượt khỏi không gian văn hóa địa phương sở tai của địa điểm thiêng này là đầu thế kỷ XX, để đến năm Bảo Đại thứ mười (1835), vị thần linh dân dã Bà Đen/ Linh Sơn Thánh Mẫu đã có đủ uy linh và “ thế lực”, được sắc phong làm “ Đức Bảo Trung hưng linh phù chi thần”.
Núi Bà Đinh/ Bà Đen là ngọn núi duy nhất trong mucj “sơn xuyên” của trấn Phiên An trong sách Gia Định thành thông chí. Theo ghi chép này thì núi Bà Đinh: trên núi có chùa Vân Sơn, ở đó có thôn Lạc của người Thượng (hiểu là các dân tộc ít người) và người Kinh sống nhờ vào khai thác lâm sản, tương truyền: có khi “thấy cả chuông vàng trong hồ”, “những đêm trời tạnh, thuyền rồng bơi lặng trong hồ”.
Các chi tiết của đoạn ghi chép này có mấy điều đáng lưu ý khi truy nguyên về tập thờ tục Bà Đen ở núi này.
Một là tên núi được ghi âm là Bà Đinh. Tên gọi này cũng thấy ghi chép tương tự trong Đai Nam liêt truyện tiền biên (biên soạn 1852), mục nói về Nguyễn Cư Trinh, năm 1755 đưa năm ngàn dân Côn Man (chăm) về đóng ở dưới chân Bà Đinh Sơn. Điều này đã chỉ ra tên gọi Bà Đen của núi này ( và về sau là tên của vị nữ thần chính được thờ tư ở đây) đến thế kỷ XIX thì vẫn chưa được định danh. Nói cách khác. Bà ĐInh / Bà Đen là địa danh phiên âm chứ không phải là địa danh có nghĩa, tức nơi này đã là nơi thờ tự một nữ thần có tên gọi là Bà Đen nên được gọi là núi Bà Đen như cách hiểu về sau này, do đó việc truy cứu nguyên ủy của vị nữ thần này buộc phải tìm tòi ở một hướng khác, các tư liệu lịch sử – văn hóa của các tộc ít người cộng cư với người Kinh ở khu vực này, tức cộng đồng mà tác giả Gia Định thành thống chí gọi là cộng đồng man / thượng / mọi ( tùy theo từng dịch giả) – mà cụ thể là người Khơ me và người chăm (tức những người Con Man định cư ở đây từ năm 1755).
Huỳnh Ngọc Trảng – Kiến thức ngày nay – năm 2002

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *